Harry Truman - Người mở đường cho cuộc chiến chống cộng trên toàn thế giới

Phong trào chống cộng ở Mỹ, thường được gọi là “Red Scare”, đã có từ rất sớm, chỉ ngay sau khi cuộc Cách mạng Tháng Mười xảy ra ở Nga vào năm 1917, tức khoảng gần cuối Thế chiến Thứ I.

Sau khi giành được độc lập từ tay thực dân Anh vào năm 1776, nước Mỹ đã âm thầm xây dựng để trở thành cường quốc về cả kinh tế lẫn quân sự. Trước khi bước vào thế kỷ thứ 20, nước Mỹ đã trải qua ba cuộc chiến liên quan đến nước ngoài, bao gồm Chiến tranh 1812 chống quân Anh, hay còn được gọi là "Chiến tranh giành độc lập lần thứ hai", Chiến tranh Mỹ - Mexico (1846), và Chiến tranh Mỹ - Tây Ban Nha (1898). Đến năm 1917, nước Mỹ bị lôi kéo vào cuộc Thế chiến Thứ I sau khi nhiều tàu dân sự của Mỹ bị tàu ngầm Đức bắn chìm. Tiếp theo đó, nước Mỹ lại một lần nữa bị lôi kéo vào cuộc Thế chiến Thứ II sau khi phát xít Nhật mở cuộc tổng tiến công vào Trân Châu Cảng năm 1941.

Cuộc chiến giữa Mỹ và Tây Ban Nha năm 1898 đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử nước Mỹ, đó là việc chấm dứt chế độ thuộc địa của Tây Ban Nha ở châu Mỹ, và quan trọng hơn nữa, thế giới được thấy nước Mỹ trỗi dậy như một cường quốc. Hai cuộc thế chiến tiếp theo cho thấy nước Mỹ đã vươn lên một tầm xa hơn nữa để trở thành một siêu cường, và cũng là ân nhân của nhiều quốc gia trên thế giới. Chính Stalin cũng đã phải nói rằng nếu không có đạo luật Lend-Lease của Mỹ, Liên bang Soviet đã bị Nazi Đức tận diệt từ hồi Thế chiến Thứ II. Những đóng góp và hy sinh cao cả của Mỹ trong việc giải quyết các xung đột trên thế giới cho thấy cương vị của nước Mỹ đã làm thay đổi đáng kể về quan hệ quốc tế, từ một thế giới đa cực sang một thế giới chủ yếu là đơn cực.

Vị tổng thống dẫn dắt nước Mỹ thoát ra khỏi thời kỳ Đại suy thoái kéo dài hơn 10 năm và hai cuộc thế chiến lúc bấy giờ là Franklin D. Roosevelt, người đầu tiên và cũng là duy nhất được bầu làm tổng thống bốn nhiệm kỳ. Trong lần ra tranh cử nhiệm kỳ cuối vào năm 1944, ông ta muốn chọn đương kim Phó tổng thống Henry A. Wallace làm bạn đồng hành, thế nhưng không được đảng Dân chủ chấp thuận vì sức khỏe của Roosevelt lúc đó đã rất sa sút, việc chọn người đảm nhiệm chức vụ phó tổng thống cũng sẽ chính là chọn vị tổng thống kế tiếp cho nước Mỹ.

Đảng Dân chủ nhận thấy trong thời gian làm phó tổng thống, Henry A. Wallace có nhiều khuyết điểm và thiếu khả năng để có thể thay thế Roosevelt nên buộc họ phải tìm một người khác. Điều bất ngờ cho hầu hết tất cả mọi người là nhân vật được đảng Dân chủ để mắt đến cho chức vụ phó tổng thống lại là Harry Truman, một Thượng nghĩ sĩ được ít người biết đến. Roosevelt tuy nói rằng ông ta có thể làm việc được với Truman nhưng trong thâm tâm ông ta không mấy hài lòng trước quyết định của đảng.

Đúng như tiên đoán, Tổng thống Roosevelt đã bị xuất huyết não và chết chỉ sau ba tháng tại vị ở nhiệm kỳ thứ tư. Tối ngày 12 tháng 4 năm 1945, tức chỉ đúng 92 ngày sau hôm nhậm chức, Harry Truman được triệu tập đến Nhà Trắng và được báo rằng Roosevelt đã chết. Lập tức ngay sau đó Harry Truman đã được làm lễ tuyên thệ và trở thành vị tổng thống thứ 33 của nước Mỹ.

Hình 1: Tổng thống Harry Truman năm 1945

Harry Truman từng hãnh diện vì nghĩ rằng mình được Tổng thống Roosevelt chọn làm phó tổng thống, thế nhưng sau khi ngồi vào bàn làm việc trong căn phòng bầu dục của Nhà Trắng, ông ta mới phát hiện nhiều tài liệu cho thấy Roosevelt đã có thái độ khinh thường và đối xử với ông như một kẻ xa lạ. Điều đó cũng giải thích vì sao từ lúc Truman vào Nhà Trắng làm việc cho đến Roosevelt chết, ông ta chỉ được gặp Roosevelt đúng hai lần, và mỗi lần chỉ vỏn vẹn chưa đến một tiếng đồng hồ. Harry Truman sau đó triệu tập nội các để tìm hiểu về các diễn biến xảy ra trong nước cũng như trên thế giới thì đó cũng là lần đầu tiên ông ta được nghe nói đến Dự án Mahattan, tức dự án chế tạo bom nguyên tử. 

Khi chuẩn bị cho hội nghị Potsdam ở Đức ba tháng sau đó, Harry Truman đã phải tìm hiểu lại những gì Roosevelt đã ký kết tại Hội nghị Yalta và ông vô cùng thất vọng khi thấy nhiều chi tiết bất lợi cho Mỹ mà cố vấn của Roosevelt cố tình che giấu không cho ông ta biết trước đó. Dưới mắt Harry Truman, Roosevelt đã quá sai lầm khi tin tưởng Stalin và đã trao cho Liên bang Soviet vai trò giải giới quân Nazi Đức ở đông Âu. Tuy rằng điều kiện Roosevelt đặt ra cho Stalin là phải để các nước đông Âu được quyền bầu cử tự do sau khi tiếp quản, nhưng các tin tình báo cho thấy hầu hết các ứng cử viên tự do ở các nước đông Âu đều đã bị phe cộng sản âm thầm tiêu diệt.

Bản thân Harry Truman được sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo khó, không có cơ hội học lên đại học, nhưng không phải vì thế mà ông ủng hộ chế độ vô sản. Thực tế, phong trào Red Scare đã hằn sâu trong tâm trí nên ông vô cùng bất bình trước việc Roosevelt dùng Đạo luật Lend-Lease giúp cộng sản Soviet chống lại Nazi Đức để rồi lúc Thế chiến Thứ II gần tàn, Stalin đã lợi dụng thời cơ biến các quốc gia đông Âu thành những nước chư hầu cộng sản.

Phản ứng của Truman đối với Stalin trở nên căng thẳng ngay sau khi Nazi Đức tuyên bố đầu hàng. Ông ta đã lập tức chấm dứt Đạo luật Lend-Lease và ra lệnh cho các tàu bè đang chở hàng hóa tiếp viện đến Liên bang Soviet phải lập tức quay trở lại. Dĩ nhiên Stalin vô cùng bất bình vì nền kinh tế Soviet sau chiến tranh đang gặp rất nhiều khó khăn, và cũng kể từ đó, Stalin đã để lộ rõ bản chất thật, một bộ mặt tráo trở, biến nước Mỹ đang từ một ân nhân cứu đất nước mình khỏi tay Nazi Đức, nay trở thành thế lực thù địch.

Vào ngày 12 tháng 7 năm 1945, Tổng thống Truman biết tin Dự án Manhattan đã cho nổ thử nghiệm thành công trái bom nguyên tử đầu tiên ở sa mạc New Mexico, ông ta hội ý với tướng chỉ huy tối cao mặt trận châu Âu lúc bấy giờ là Dwight D. Eisenhower về việc sử dụng nó ở mặt trận Thái Bình Dương, với hy vọng sẽ sớm chấm dứt chiến tranh với Nhật. Đúng ra ông phải hội ý với tướng chỉ huy tối cao mặt trận Thái Bình Dương là tướng Douglas MacArthur, nhưng vì vị tướng này có nhiều tiền sử vi phạm kỷ luật binh chủng, coi thường mệnh lệnh của chỉ huy tối cao, tức mệnh lệnh từ tổng thống, khiến Truman không tin tưởng, và hậu quả là sau này là vị tướng này đã bị ông ta tước quân tịch.

Tướng Eisenhower ra sức khuyên Truman không nên dùng đến vũ khí nguyên tử, lý do là Nhật sắp sửa phải đầu hàng vì không thể kéo dài cuộc chiến được lâu dài nữa. Những gì Eisenhower nói ra tiếp theo tuy để thuyết phục Truman nhưng lại chính là điều khiến Truman thấy việc sử dụng bom nguyên tử ở Nhật là cần thiết và càng sớm càng tốt, đó là theo thỏa thuận ở Hội nghị Yalta, ba tháng sau khi Nazi Đức đầu hàng, Liên bang Soviet phải đem quân qua phía bờ biển Thái Bình Dương để giao chiến với Nhật.

Đối với Truman, một đông Âu bị biến thành cộng sản cũng đã là quá đủ. Nếu Liên bang Soviet đem quân qua phía bờ biển Thái Bình Dương thì hậu quả châu Á cũng sẽ biến thành một đông Âu thứ hai, nhất là vào thời điểm đó, Trung hoa đang từng bước bị Mao Trạch Đông nhuộm đỏ. Cũng theo giao ước tại Hội nghị Potsdam, Liên bang Soviet sẽ giải giới quân Nhật ở Mãn Châu, nếu Harry Truman không ngăn chặn đà tiến của cộng sản thì chẳng mấy chốc không những Mãn Châu, mà còn cả Triều Tiên, Nhật bản, và rồi cả châu Á cũng sẽ bị nhuộm đỏ.

Ngày 5 tháng 8 năm 1945, Truman ra lệnh cho thả trái bom nguyên tử đàu tiên xuống thành phố Hiroshima, với mục đích vừa để buộc Nhật sớm đầu hàng, vửa để cảnh báo chận đường tiến quân của Liên bang Soviet. Ba ngày sau, tức ngày 9 tháng 8, trái bom nguyên tử thứ hai được thả xuống thành phố Nagasaki. Đến ngày 15 tháng 8, Hoàng đế Hirohito quyết định tuyên bố buông súng, nhưng cho dến mãi ngày 2 tháng 9 họ mới chính thức ký kết đầu hàng vô điều kiện trên chiến hạm Missouri của Mỹ đang neo đậu trong vịnh Tokyo.


Chuyện gì có thể xảy ra nếu Franklin D. Roosevelt không chết sớm?

Không ít sử gia trên thế giới đã đặt câu hỏi nếu như Tổng thống Franklin D. Roosevelt còn sống cho đến hết nhiệm kỳ thì liệu thế giới có bình yên hơn không.

Trong cuốn hồi ký, Tổng thống Harry Truman tỏ vẻ hối tiếc vì đã không đi theo con đường Roosevelt vạch sẵn, mà lại cứng rắn thay đổi chính sách đối với Stalin. Hành động đó đã khiến cho cuộc chiến tranh lạnh bùng nổ và để rồi chế độ cộng sản có cơ hội bành trướng, dẫn đến cái chết của hàng triệu người trên thế giới. Harry Truman giải thích rằng ngày ấy vì chỉ mới lên đảm nhận chức vụ tổng thống được it tháng, thời gian quá ngắn ngủi để hiểu biết sâu xa hơn về những gì đang xảy ra.

Cựu phó tổng thống của Roosevelt ở nhiệm kỳ ba là Henry A. Wallace đã một lần họp báo lên án Tổng thống Truman về việc không tiếp tục đi theo con đường mềm dẻo của người tổng thống tiền nhiệm nên đã dẫn đến hận thù dâng cao giữa phe tư bản và cộng sản. Thế nhưng chỉ ít năm sau, Henry A. Wallace đã nhìn ra sự thật và đã phải viết một bài xin lỗi về những hiểu biết và đánh giá sai lầm của mình.

Nói cho đúng thì Truman đã không sai khi đối xử với Stalin như kẻ thù. Từ những năm trước Thế chiến Thứ II, lúc Liên bang Soviet còn đang là đồng minh của Nazi Đức, Stalin đã ký kết Hiệp ước Molotov-Ribbentrop với Hitler để chia châu Âu thành hai miền để trị, nhưng lại mưu toan tráo trở, định chờ Hitler thôn tính xong tây Âu rồi sẽ đánh úp vào nước Đức để chiếm và biến toàn bộ châu Âu thành các nước chư hầu cộng sản. Dĩ nhiên Stalin đã tính quá sai vì lực lượng quân sự của Soviet lúc đó còn quá yếu để có thể làm được việc đó. Thế nhưng giai đoạn từ giữa Thế chiến Thứ II trở đi, với sự giúp đỡ từ Đạo luật Lend-Lease của Tổng thống Roosevelt, khả năng quân sự của Soviet đã vượt trội, và nhờ đó mà quân Nazi Đức đã bị loại trừ ra khỏi đông Âu.

Tại Hội nghị Yalta vào tháng 2 năm 1945, Stalin đã thỏa thuận với Tổng thống Roosevelt về việc để các nước đông Âu được quyền bầu cử tự do sau khi Nazi Đức đầu hàng. Thế nhưng chữ ký chưa khô mực, Stalin đã trắng trợn vi phạm những cam kết đã hứa với Roosevelt. Stalin với tư tưởng gian ác, cộng thêm với sức mạnh quân sự đáng sợ thì nếu Mỹ không có biện pháp ngăn chặn sớm thì ông ta sẽ trở thành mối nguy cho thế giới sau này.

Điều Harry Truman không thể quên được lúc mới được ngồi vào chiếc bàn làm việc trong phòng bầu dục, ông ta nhận được một tập tài liệu từ cơ quan FBI gởi qua. Sau khi đọc xong, ông ta chỉ biết lắc đầu, thốt lên rằng tình báo Soviet đã “biết tất cả,” họ đã gài đầy người trong tất cả các cơ quan của Mỹ. Ngay cả nơi mà ông chỉ mới được biết đến sau khi nhậm chức là Dự án Manhattan thế mà gián điệp của Soviet đã có đầy người trong đó. Chắc hẳn Tổng thống Roosevelt cũng đã biết rõ điều đó, nhưng thay vì có biện pháp đối phó, ông ta lại dùng tình cảm để chinh phục và thuần hóa Stalin. Không ai có thể nói chính xác liệu Stalin sẽ tuân thủ những điều đã giao ước với Roosevelt nếu ông ta còn sống, nhưng không mấy ai có đủ lạc quan để thấy thế giới có thể sống hòa bình giữa phe tư bản và cộng sản, nhất là dưới sự lãnh đạo của Stalin.


Sự liên hệ giữa Harry Truman và chiến tranh Việt Nam

Việc giải giới quân đội Nhật và trả độc lập lại cho các nước bị Nhật chiếm đóng tại châu Á đã được Đồng Minh/Liên Hợp Quốc quyết định tại Hội nghị Potsdam vào tháng 7 năm 1945. 

Ba quốc gia được giao trách nhiệm giải giới quân đội Nhật ở châu Á bao gồm Trung hoa Dân quốc, Anh và Liên bang Soviet, trong đó Trung hoa Dân quốc có nhiệm vụ giải giới quân Nhật ở Trung hoa, Đài Loan, Lào và bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 16 trở lên; Anh giải giới quân Nhật ở Cambodia, nam Việt Nam từ vĩ tuyến 16 trở xuống cùng các nước thuộc vùng Đông nam Á; Liên bang Soviet giải giới quân Nhật ở Mãn châu và các đảo thuộc Liên bang Soviet bị Nhật chiếm đóng. Ngày ấy Harry Truman chưa biết nhiều về mảnh đất Việt Nam nên việc sắp xếp phân chia trách nhiệm giải giới và trả lại nền độc lập cho các quốc gia bị Nhật chiếm đóng do các cố vấn sắp đặt không có điều gì đáng quan tâm đối với ông.

Đến ngày 2 tháng 9 năm 1945, trong khi thế giới hân hoan đón nhận tin Thế chiến Thứ II chấm dứt thì trong cùng ngày, Hồ Chí Minh cũng đi từ chiến khu Tân Trào ra Hà Nội đọc bản Tuyên ngôn Độc lập. Động thái này có lẽ đã trở thành mối bận tâm lớn cho Truman vì ông ta đã vừa mới phải vội vã dùng bom nguyên tử ở Nhật để chặn đứng làn sóng đỏ ở châu Á, thế nhưng giờ đây lại phải chứng kiến cộng sản Việt Nam đã thoát ra khỏi tầm kiểm soát của ông và tiếp tục tiến xuống phía nam.

Chủ trương của Tổng thống Roosevelt trước đó là không muốn để người Pháp trở lại Việt Nam sau khi chiến tranh chấm dứt, thế nhưng chỉ 22 ngày sau khi quân Anh đổ vào miền nam Việt Nam để giải giới Nhật thì bốn sư đoàn lính Pháp cũng đã bắt đầu xuất hiện ở Sài Gòn với danh nghĩa hỗ trợ người Anh ổn định tình hình. Câu hỏi được đặt ra là ai đã yêu cầu hay cho phép người Pháp trở lại Việt Nam sau Thế chiến Thứ II?

Kể từ khi Tổng thống Roosevelt thành lập Liên Hợp Quốc vào đầu năm 1942, thế giới đã bước vào kỷ nguyên trật tự mới, không còn chuyện các quốc gia tây Âu tùy tiện, muốn xua quân đi xâm lược nước nào thì đi. Quan trọng hơn nữa, Roosevelt cũng đã kêu gọi các quốc gia tây Âu phải chấm dứt chế độ thực dân và trả lại độc lập cho các nước thuộc địa trên toàn thế giới, và nhờ đó mà đã có hơn 80 thuộc địa cũ đã giành được độc lập và hoàn toàn tự chủ chỉ trong vòng năm đó. Pháp và Anh lại là hai trong số năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nên việc cộng sản Việt Nam vu khống, cho rằng Pháp tự ý hay được người Anh giúp đưa quân trở lại Việt Nam chỉ là những xuyên tạc, tuyên truyền vô căn cứ. 

Nếu Tổng thống Roosevelt còn sống, có lẽ Việt Nam cũng là một trong số những nước giành được độc lập vào năm 1945 như tất cả các nước khác, không cần biết thể chế của Việt Nam sẽ ra sao. Thế nhưng vì Tổng thống Harry Truman là người chống cộng triệt để nên ông ta đã quyết không để Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc trao trả độc lập lại cho Việt Nam nếu như sau đó Việt Nam trở thành một nước cộng sản. Suy cho cùng thì không ai khác hơn ngoài Tổng thống Harry Truman đã là người yêu cầu Pháp trở lại Việt Nam với nhiệm vụ gầy dựng lại ngôi vị cho vua Bảo Đại trước khi trao trả độc lập lại cho Việt Nam.

Ở thời điểm đó, Mỹ là nước duy nhất vẫn còn đủ khả năng tài chánh và quân sự để tài trợ cho một chiến dịch quân sự đặc biệt ở Việt Nam nên chuyện Truman đưa Pháp trở lại Việt Nam là chuyện khó có thể chối cãi. Rất có thể Truman đã phải công khai chuyện đó trước Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, và nếu như vậy việc đưa Pháp sang Việt Nam cần phải có sự đồng thuận của cả năm thành viên thường trực, mà một trong số đó là Liên bang Soviet. Ngay cả khi Mỹ lén lút giao ước với Anh và Pháp, âm thầm đưa quân trở lại Việt Nam, Liên bang Soviet vẫn có thể phản đối, hoặc lên án, hoặc đưa vấn đề ra trước Liên Hợp Quốc. Câu hỏi kế tếp là vậy thì tại sao Stalin không có phản ứng chống lại để giúp đồng minh của họ ở Việt Nam?

Thật ra thì ngày ấy, Stalin chưa hề biết Hồ Chí Minh là ai. Đối với Stalin lúc bấy giờ thì cộng sản châu Á chỉ là những thứ theo đóm ăn tàn, lợi dụng danh nghĩa làm cách mạng với danh xưng cộng sản để phục vụ lợi ích cá nhân. Các sử gia trên thế giới thì lại cho rằng Stalin bị căn bệnh paranoia, tức chứng hoang tưởng. Đó là một trạng thái tâm lý đặc trưng bởi cảm giác ngờ vực và nghi ngờ mãnh liệt đối với người khác, thường không có lý do chính đáng. Vì thế cho nên đối với Stalin, một quốc gia làm cách mạng cộng sản như ở Việt Nam mà không có sự tham gia hay hiểu biết của Liên bang Soviet thì đều không đáng tin cậy. Hơn thế nữa, từ năm 1941 trở đi, đảng cộng sản Việt Nam đã đổi thành Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội, hay Việt Minh, và đó là một tổ chức ô hợp, kết hợp nhiều đảng phái có tư tưởng chính trị khác biệt, đối nghịch, đầy rối loạn và rồi ra sức hãm hại lẫn nhau. Việt Minh ngày ấy không ai dám nhận là quen biết hay họ hàng chứ đừng nói chuyện đứng ra bênh vực cho họ trước thế giới. Vì thế cho nên đối với Stalin, Việt Minh không phải là một tổ chức cộng sản thuần túy để mà phải tốn công bảo vệ.


Popular posts from this blog

Một vết nhơ trong lịch sử dân tộc