Harry Truman - Người mở đường cho 
cuộc chiến chống cộng trên toàn thế giới

Phong trào chống cộng ở Mỹ, thường được gọi là “Red Scare”, đã có từ rất sớm, chỉ ngay sau khi cuộc Cách mạng Tháng Mười xảy ra ở Nga vào năm 1917, tức khoảng gần cuối Thế chiến thứ I.

Sau khi giành được độc lập từ thực dân Anh vào năm 1776, nước Mỹ đã âm thầm xây dựng để trở thành cường quốc về cả kinh tế lẫn quân sự. Trước khi bước vào thế kỷ thứ 20, nước Mỹ đã trải qua ba cuộc chiến liên quan đến nước ngoài, bao gồm Chiến tranh 1812 chống quân Anh, hay còn được gọi là "Chiến tranh giành độc lập lần thứ hai", Chiến tranh Mỹ - Mexico (1846), và Chiến tranh Mỹ - Tây Ban Nha (1898). Đến năm 1917, nước Mỹ bị lôi kéo vào cuộc Thế chiến thứ I sau khi nhiều tàu dân sự của Mỹ bị tàu ngầm Đức bắn chìm. Tiếp theo đó, nước Mỹ lại một lần nữa bị lôi kéo vào cuộc Thế chiến thứ II sau khi phát xít Nhật mở cuộc tổng tấn công vào Trân Châu Cảng năm 1941.

Cuộc chiến giữa Mỹ và Tây Ban Nha năm 1898 đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử nước Mỹ, đó là việc chấm dứt chế độ thuộc địa của Tây Ban Nha ở châu Mỹ, và quan trọng hơn nữa, thế giới được thấy nước Mỹ trỗi dậy như một cường quốc. Hai cuộc thế chiến tiếp theo cho thấy nước Mỹ đã vươn lên một tầm xa hơn nữa để trở thành một siêu cường, và cũng là ân nhân của nhiều quốc gia trên thế giới. Chính Stalin cũng đã phải nói rằng nếu không có đạo luật Lend-Lease của Mỹ, Liên bang Soviet đã bị Nazi Đức tận diệt từ hồi Thế chiến thứ II. Những đóng góp và hy sinh cao cả của Mỹ trong việc giải quyết các xung đột trên thế giới cho thấy cương vị của nước Mỹ đã làm thay đổi đáng kể về quan hệ quốc tế, từ một thế giới đa cực sang một thế giới chủ yếu là đơn cực.

Vị tổng thống dẫn dắt nước Mỹ thoát ra khỏi thời kỳ Đại suy thoái kéo dài hơn 10 năm và hai cuộc thế chiến lúc bấy giờ là Franklin D. Roosevelt, người đầu tiên và cũng là duy nhất được bầu làm tổng thống bốn nhiệm kỳ. Trong lần ra tranh cử nhiệm kỳ cuối vào năm 1944, ông ta muốn chọn đương kim Phó tổng thống Henry A. Wallace làm bạn đồng hành, thế nhưng không được đảng Dân chủ chấp thuận vì sức khỏe của Roosevelt lúc đó đã rất sa sút, việc chọn người đảm nhiệm chức vụ phó tổng thống cũng sẽ chính là chọn vị tổng thống kế tiếp cho nước Mỹ.

Đảng Dân chủ nhận thấy trong thời gian làm phó tổng thống, Henry A. Wallace có nhiều khuyết điểm và thiếu khả năng để có thể thay thế Roosevelt nên buộc họ phải tìm một người khác. Điều bất ngờ là nhân vật được đảng Dân chủ để mắt đến cho chức vụ phó tổng thống lại là Harry Truman, một thượng nghị sĩ được rất ít người biết đến. Roosevelt tuy nói rằng ông ta có thể làm việc được với Truman nhưng trong thâm tâm không mấy hài lòng trước quyết định của đảng.

Đúng như tiên đoán, Tổng thống Roosevelt bị xuất huyết não và chết chỉ sau gần ba tháng tại vị ở nhiệm kỳ thứ tư. Tối ngày 12 tháng 4 năm 1945, tức chỉ đúng 82 ngày sau hôm nhậm chức, Harry Truman được triệu tập đến Nhà Trắng và báo rằng Roosevelt đã qua đời. Lập tức ngay sau đó Harry Truman đã được làm lễ tuyên thệ và trở thành vị tổng thống thứ 33 của nước Mỹ.

Hình 1: Tổng thống Harry Truman

Hình 2: Bảng xếp hạng Tổng thống Mỹ

Harry Truman từng hãnh diện vì nghĩ rằng mình được Tổng thống Roosevelt chọn làm phó tổng thống, thế nhưng sau khi ngồi vào bàn làm việc trong căn phòng bầu dục của Nhà Trắng, ông ta mới phát hiện nhiều tài liệu cho thấy Roosevelt đã có thái độ khinh thường và đối xử với ông như một kẻ xa lạ. Điều đó cũng giải thích vì sao từ lúc Truman vào Nhà Trắng làm việc cho đến khi Roosevelt chết, ông ta chỉ được gặp Roosevelt đúng hai lần, và mỗi lần chỉ vỏn vẹn chưa đến một tiếng đồng hồ. Truman sau đó triệu tập nội các để tìm hiểu về các diễn biến xảy ra trong nước cũng như trên thế giới thì đó cũng là lần đầu tiên ông ta được nghe nói đến Dự án Manhattan, tức dự án chế tạo bom nguyên tử. 

Khi chuẩn bị cho hội nghị Potsdam ở Đức ba tháng sau đó, Truman đã phải tìm hiểu lại những gì Roosevelt đã ký kết tại Hội nghị Yalta và ông vô cùng thất vọng khi thấy nhiều chi tiết bất lợi cho Mỹ mà cố vấn của Roosevelt cố tình che giấu không cho ông ta biết trước đó. Dưới mắt Truman, Roosevelt đã quá sai lầm khi tin tưởng Stalin và đã trao cho Liên bang Soviet vai trò giải giới quân Nazi Đức ở đông Âu. Tuy rằng điều kiện Roosevelt đặt ra cho Stalin là phải để các nước đông Âu được quyền bầu cử tự do sau khi tiếp quản, nhưng các tin tình báo cho thấy hầu hết các ứng cử viên tự do ở các nước đông Âu đều đã bị phe cộng sản âm thầm tiêu diệt.

Phản ứng của Truman đối với Stalin trở nên căng thẳng ngay sau khi Nazi Đức tuyên bố đầu hàng. Ông ta đã lập tức chấm dứt Đạo luật Lend-Lease và ra lệnh cho các tàu bè đang chở hàng hóa tiếp viện đến Liên bang Soviet phải lập tức quay trở lại. Dĩ nhiên Stalin vô cùng bất bình vì nền kinh tế Soviet sau chiến tranh đang gặp rất nhiều khó khăn, và cũng kể từ đó, Stalin đã để lộ rõ bản chất thật, một bộ mặt tráo trở, biến nước Mỹ đang từ một ân nhân cứu đất nước mình khỏi tay Nazi Đức, nay trở thành thế lực thù địch.

Bản thân Truman được sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo khó, không có cơ hội học lên đại học, nhưng không phải vì thế mà ông ta ủng hộ chế độ vô sản. Thực tế, phong trào Red Scare đã hằn sâu trong tâm trí nên ông vô cùng bất bình trước việc Roosevelt dùng Đạo luật Lend-Lease giúp cộng sản Soviet để rồi lúc thế chiến gần tàn, Stalin đã lợi dụng thời cơ biến các quốc gia đông Âu thành những nước chư hầu cộng sản. Đành rằng lúc Truman còn đang là thượng nghị sĩ, ông ta từng tuyên bố  phải giúp Soviet nếu thấy họ đang thất thế trước Nazi Đức, nhưng dưới mắt Truman, Soviet là trục cộng sản, nguy hiểm không thua gì Nazi Đức nên nếu có giúp thì phải giúp một cách khôn khéo, có tính toán, chứ không để họ lớn mạnh vượt quá khỏi tầm kiểm soát của Mỹ.


Vào ngày 12 tháng 7 năm 1945, Tổng thống Truman biết tin Dự án Manhattan đã cho nổ thử nghiệm thành công trái bom nguyên tử đầu tiên ở sa mạc New Mexico, ông ta hội ý với tướng chỉ huy tối cao mặt trận châu Âu lúc bấy giờ là Dwight D. Eisenhower về việc sử dụng nó ở mặt trận Thái Bình Dương, với hy vọng sẽ sớm chấm dứt chiến tranh với Nhật. Đúng ra ông phải hội ý với tướng chỉ huy tối cao mặt trận Thái Bình Dương là Douglas MacArthur, nhưng vì vị tướng này có nhiều tiền sử vi phạm kỷ luật quân đội, coi thường mệnh lệnh của chỉ huy tối cao, tức mệnh lệnh từ tổng thống, khiến Truman không tin tưởng, và hậu quả là vị tướng này đã bị ông ta tước quân hàm mấy năm sau đó.

Tướng Eisenhower ra sức khuyên Truman không nên dùng đến vũ khí nguyên tử, lý do là Nhật sắp sửa phải đầu hàng vì không thể kéo dài cuộc chiến được bao lâu nữa. Những gì Eisenhower nói ra tiếp theo tuy để thuyết phục Truman nhưng lại chính là điều khiến Truman thấy việc sử dụng bom nguyên tử ở Nhật là cần thiết và càng sớm càng tốt, đó là theo thỏa thuận ở Hội nghị Yalta, Liên bang Soviet phải đem quân qua phía bờ biển Thái Bình Dương để giao chiến với Nhật ba tháng sau khi Nazi Đức đầu hàng,..

Đối với Truman, một đông Âu bị biến thành cộng sản cũng đã là quá đủ. Nếu Liên bang Soviet đem quân qua phía bờ biển Thái Bình Dương thì hậu quả châu Á cũng sẽ biến thành một đông Âu thứ hai, nhất là vào thời điểm đó, Trung hoa đang từng bước bị Mao Trạch Đông nhuộm đỏ. Cũng theo giao ước tại Hội nghị Potsdam, Liên bang Soviet sẽ giải giới quân Nhật ở Mãn Châu, nếu Truman không ngăn chặn đà tiến của cộng sản thì chẳng mấy chốc không những Mãn Châu, mà còn cả Triều Tiên, Nhật bản, và rồi cả châu Á cũng sẽ bị nhuộm đỏ.

Ngày 5 tháng 8 năm 1945, đúng ba ngày trước khi tròn ba tháng kể từ khi Nazi Đức đầu hàng, Truman ra lệnh cho thả trái bom nguyên tử đầu tiên xuống thành phố Hiroshima, với mục đích vừa để buộc Nhật sớm đầu hàng, vừa để cảnh báo chận đường tiến quân của Liên bang Soviet. Ba ngày sau đó, tức ngày 9 tháng 8, trái bom nguyên tử thứ hai được thả xuống thành phố Nagasaki. Đến ngày 15 tháng 8, Hoàng đế Hirohito quyết định tuyên bố buông súng, nhưng cho đến mãi ngày 2 tháng 9 họ mới chính thức ký kết đầu hàng vô điều kiện trên chiến hạm Missouri của Mỹ đang neo đậu trong vịnh Tokyo.


Chuyện gì có thể xảy ra nếu Franklin D. Roosevelt không chết sớm?

Không ít sử gia trên thế giới đã đặt câu hỏi nếu như Tổng thống Franklin D. Roosevelt còn sống cho đến hết nhiệm kỳ thì liệu thế giới có bình yên hơn không.

Trong cuốn hồi ký, Tổng thống Truman tỏ vẻ hối tiếc vì đã không đi theo con đường Roosevelt vạch sẵn, mà lại cứng rắn thay đổi chính sách đối với Stalin. Hành động đó đã khiến cho cuộc chiến tranh lạnh bùng nổ và để rồi chế độ cộng sản có cơ hội bành trướng, dẫn đến cái chết của hàng triệu người trên thế giới. Harry Truman giải thích rằng ngày ấy vì chỉ mới lên đảm nhận chức vụ tổng thống được it ngày, thời gian quá ngắn ngủi để hiểu biết sâu xa hơn về những gì đang xảy ra.

Cựu phó tổng thống của Roosevelt ở nhiệm kỳ ba là Henry A. Wallace đã một lần họp báo lên án Tổng thống Truman về việc không tiếp tục đi theo con đường mềm dẻo của người tiền nhiệm nên đã dẫn đến hận thù dâng cao giữa phe tư bản và cộng sản. Thế nhưng chỉ ít năm sau, Henry A. Wallace đã nhìn ra sự thật và đã phải viết một bài xin lỗi về những hiểu biết và đánh giá sai lầm của mình.

Nói cho đúng thì Truman đã không sai khi đối xử với Stalin như kẻ thù. Từ những năm trước Thế chiến thứ II, lúc Liên bang Soviet còn đang là đồng minh của Nazi Đức, Stalin đã ký kết Hiệp ước Molotov-Ribbentrop với Hitler để chia châu Âu thành hai miền để trị, nhưng lại mưu toan tráo trở, định chờ Hitler thôn tính xong tây Âu rồi sẽ đánh úp vào nước Đức để chiếm và biến toàn bộ châu Âu thành các nước cộng sản. Dĩ nhiên Stalin đã tính quá sai vì lực lượng quân sự của Soviet lúc đó còn quá yếu để có thể làm được việc đó. Thế nhưng giai đoạn từ giữa Thế chiến thứ II trở đi, với sự giúp đỡ từ Đạo luật Lend-Lease của Tổng thống Roosevelt, khả năng quân sự của Soviet đã vượt trội, và nhờ đó mà quân Nazi Đức đã bị loại trừ ra khỏi đông Âu.

Tại Hội nghị Yalta vào tháng 2 năm 1945, Stalin đã thỏa thuận với Tổng thống Roosevelt về việc để các nước đông Âu được quyền bầu cử tự do sau khi Nazi Đức đầu hàng. Thế nhưng chữ ký chưa khô mực, Stalin đã trắng trợn vi phạm những cam kết đã hứa với Roosevelt. Stalin với tư tưởng gian ác, cộng thêm với sức mạnh quân sự đáng sợ thì nếu Mỹ không có biện pháp ngăn chặn sớm thì ông ta sẽ trở thành mối nguy hại cho thế giới sau này.

Điều Truman không thể quên được lúc mới được ngồi vào chiếc bàn làm việc trong phòng bầu dục, ông ta nhận được một tập tài liệu từ cơ quan FBI gởi qua. Sau khi đọc xong, ông ta chỉ biết lắc đầu, thốt lên rằng tình báo Soviet đã “biết tất cả,” họ đã gài đầy người trong tất cả các cơ quan của Mỹ. Ngay cả nơi mà ông chỉ mới được biết đến sau khi nhậm chức là Dự án Manhattan thế mà gián điệp của Soviet đã có đầy người trong đó. Chắc hẳn Tổng thống Roosevelt cũng đã biết rõ điều đó, nhưng thay vì có biện pháp đối phó, ông ta lại dùng tình cảm để chinh phục và thuần hóa Stalin. Không ai có thể nói chính xác liệu Stalin sẽ tuân thủ những điều đã giao ước với Roosevelt nếu ông ta còn sống, nhưng không mấy ai có đủ lạc quan để thấy thế giới có thể sống hòa bình giữa phe tư bản và cộng sản, nhất là dưới sự lãnh đạo của Stalin.

Video 1 - Why Stalin made impossible demands the first time he met Truman

Sự liên hệ giữa Harry Truman và chiến tranh Việt Nam

Việc giải giới quân đội Nhật và trả độc lập lại cho các nước bị Nhật chiếm đóng tại châu Á đã được Đồng Minh/Liên Hợp Quốc quyết định tại Hội nghị Potsdam vào tháng 7 năm 1945. 

Bốn quốc gia được giao trách nhiệm giải giới quân đội Nhật bao gồm Trung hoa Dân quốc, Anh, Liên bang Soviet và Mỹ, trong đó Trung hoa Dân quốc có nhiệm vụ giải giới quân Nhật ở Trung hoa, Đài Loan, Lào và bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 16 trở lên; Anh giải giới quân Nhật ở Cambodia, nam Việt Nam từ vĩ tuyến 16 trở xuống cùng các nước thuộc vùng Đông nam Á; Liên bang Soviet giải giới quân Nhật ở Mãn châu, các đảo thuộc Liên bang Soviet bị Nhật chiếm đóng và Triều Tiên từ vĩ tuyến 38 trở lên; Mỹ giải giới quân đội Nhật ở Triều Tiên từ vĩ tuyến 38 trở xuống. Riêng việc giải giới lực lượng vũ trang Nhật tại ngay nước Nhật được giao cho Tư lệnh tối cao của các lực lượng Đồng Minh (hay SCAP), tức do tướng Doughlas MacArthur và các cộng sự của ông. 

Ngày ấy Truman chưa biết nhiều về mảnh đất Việt Nam nên việc sắp xếp phân chia trách nhiệm giải giới và trả lại nền độc lập cho các quốc gia bị Nhật chiếm đóng do các cố vấn sắp đặt không có điều gì đáng quan tâm đối với ông.

Đến ngày 2 tháng 9 năm 1945, trong khi thế giới hân hoan đón nhận tin Thế chiến thứ II chấm dứt thì trong cùng ngày, Hồ Chí Minh cũng đi từ chiến khu Tân Trào ra Hà Nội đọc bản Tuyên ngôn Độc lập. Động thái này có lẽ đã trở thành mối bận tâm lớn cho Truman vì ông ta đã vừa mới phải vội vã dùng bom nguyên tử ở Nhật để chặn đứng làn sóng đỏ ở châu Á, thế nhưng giờ đây lại phải chứng kiến cộng sản Việt Nam đã thoát ra khỏi tầm kiểm soát của ông để tiếp tục tiến xuống phía nam.

Chủ trương của Tổng thống Roosevelt trước đó là không muốn để người Pháp trở lại Việt Nam sau khi chiến tranh chấm dứt, thế nhưng chỉ 22 ngày sau khi quân Anh đổ vào miền nam Việt Nam để giải giới Nhật thì bốn sư đoàn lính Pháp cũng đã bắt đầu xuất hiện ở Sài Gòn với danh nghĩa hỗ trợ người Anh ổn định tình hình. Câu hỏi được đặt ra là ai đã yêu cầu hay cho phép người Pháp trở lại Việt Nam sau Thế chiến thứ II?.

Kể từ khi Tổng thống Roosevelt thành lập Liên Hợp Quốc vào đầu năm 1942, thế giới đã bước vào kỷ nguyên trật tự mới, không còn chuyện các quốc gia tây Âu tùy tiện, muốn xua quân đi xâm lược nước nào thì đi. Quan trọng hơn nữa, Roosevelt cũng đã kêu gọi các quốc gia tây Âu phải chấm dứt chế độ thực dân và trao trả lại độc lập cho các nước thuộc địa trên toàn thế giới, và nhờ đó mà đã có hơn 80 nước thuộc địa cũ đã giành được độc lập và hoàn toàn tự chủ chỉ trong vòng mấy năm sau đó. Pháp và Anh lại là hai trong số năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nên việc cộng sản Việt Nam vu khống, cho rằng Pháp tự ý hay được người Anh giúp đưa quân trở lại xâm lược Việt Nam chỉ là những xuyên tạc, tuyên truyền vô căn cứ.

Nếu Tổng thống Roosevelt còn sống, có lẽ Việt Nam cũng là một trong số những nước giành được độc lập vào năm 1945 như tất cả các nước khác, không cần biết thể chế của Việt Nam sẽ ra sao. Thế nhưng vì Tổng thống Truman là người chống cộng triệt để nên ông ta đã quyết không để Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc trao trả độc lập lại cho Việt Nam nếu như sau đó Việt Nam trở thành một nước cộng sản. Suy cho cùng thì không ai khác hơn ngoài Tổng thống Truman đã là người yêu cầu Pháp trở lại Việt Nam với nhiệm vụ gầy dựng lại ngôi vị cho vua Bảo Đại trước khi trao trả độc lập lại cho Việt Nam. Và đó cũng là lý do vì sao người Pháp tìm cách đưa Giải pháp Bảo Đại vào chính trường Việt Nam trong giai đoạn đó.

Ở thời điểm sau Thế chiến thứ II, Anh và Pháp đã hoàn toàn kiệt quệ. Mỹ là nước duy nhất vẫn còn đủ khả năng tài chánh để tài trợ cho một chiến dịch quân sự đặc biệt ở Việt Nam nên chuyện Truman đưa Pháp trở lại Việt Nam là chuyện khó có thể chối cãi. Rất có thể Truman đã phải công khai chuyện đó trước Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc vì những chuyện như vậy cần phải có sự minh bạch và trong sáng đối với thế giới. Và nếu đúng như vậy thì việc đưa Pháp sang Việt Nam cần phải có sự đồng thuận của cả năm thành viên thường trực, mà một trong số đó là Liên bang Soviet. Câu hỏi kế tiếp là tại sao Stalin không phản ứng chống lại để giúp đồng minh của họ ở Việt Nam?

Thật ra thì ngày ấy Stalin chưa hề biết Hồ Chí Minh là ai. Dưới mắt Stalin lúc bấy giờ thì cộng sản châu Á chỉ là những thứ theo đóm ăn tàn, lợi dụng danh nghĩa làm cách mạng với danh xưng cộng sản để phục vụ lợi ích cá nhân. Các sử gia trên thế giới thì lại cho rằng Stalin bị căn bệnh paranoia, tức chứng hoang tưởng. Đó là một trạng thái tâm lý đặc trưng bởi cảm giác ngờ vực và nghi ngờ mãnh liệt đối với người khác. Vì thế cho nên đối với Stalin, một quốc gia làm cách mạng cộng sản như ở Việt Nam mà không có sự tham gia hay hiểu biết của Liên bang Soviet thì đều không đáng tin cậy. Hơn thế nữa, từ năm 1941 trở đi, đảng cộng sản Việt Nam đã đổi thành Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội, hay Việt Minh, và đó là một tổ chức ô hợp, kết hợp nhiều đảng phái có tư tưởng chính trị khác biệt, đối nghịch, đầy rối loạn và rồi ra sức hãm hại lẫn nhau. Ngày ấy không ai dám nhận là quen biết hay họ hàng với Việt Minh thì đừng nói chuyện có quốc gia nào đứng ra bênh vực cho họ trước thế giới. Vì thế cho nên đối với Stalin, Việt Minh không phải là một tổ chức cộng sản thuần túy để mà phải tốn công bảo vệ.


Căng thẳng giữa Mỹ và Liên bang Soviet bắt đầu gia tăng và trở thành cuộc chiến tranh lạnh vào khoảng năm 1947 sau khi Soviet hoàn tất việc thiết lập chế độ cộng sản bù nhìn ở những nước đông Âu trước sự chống đối từ Liên Hợp Quốc. Đến năm 1948 thì mâu thuẫn trở nên gay gắt hơn khi Soviet cô lập tây Bá Linh, khiến Tổng thống Truman đã phải lập cầu không vận để tiếp tế cho khoảng hai triệu người sinh sống trong đó. Thuở ấy, thủ đô Bá Linh của Đức tuy nằm gọn trong khu vực chiếm đóng quân sự của Soviet nhưng cũng lại được chia thành bốn khu vực do bốn nước Anh, Pháp, Mỹ và Soviet kiểm soát. Nếu xét về mặt chính trị thì coi như Bá Linh được chia thành hai miền đông và tây, phía đông theo cộng sản và phía tây theo tư bản. 

Đến năm 1950, căng thẳng giữa Mỹ và Liên bang Soviet đã chuyển sang một giai đoạn mới, không còn âm thầm chống đối lẫn nhau mà đã công khai bước qua lãnh vực quân sự. Mỹ trên danh nghĩa chỉ là một thành viên bình thường của Liên Hợp Quốc, nhưng thực tế Tổng thống Roosevelt và tiếp theo là Tổng thống Truman đã là người lèo lái tất cả các nước thành viên theo một chiều hướng nhất định. Vì thế cho nên việc Stalin chống Truman không còn đơn thuần là Soviet chống riêng nước Mỹ nữa, mà là chống luôn cả Liên Hợp Quốc. Năm 1950 cũng là năm Liên bang Soviet tẩy chay Liên Hợp quốc và bắt đầu công nhận Triều Tiên và Việt Nam với mục đích dùng hai nước này để chống lại các quyết tâm của thế giới trong việc ngăn cản sự phát triển và bành trướng của chủ nghĩa cộng sản.

Tổng thống Truman mãn nhiệm vào đầu năm 1953 khi chiến sự giữa Pháp và cộng sản Việt Nam đang diễn ra ngày càng căng thẳng và dữ dội. Tướng chỉ huy tối cao mặt trận châu Âu thời Thế chiến thứ II là Dwight D. Eisenhower nay đã trở thành tổng thống thứ 34 của nước Mỹ. Tuy ông ta thuộc đảng Cộng hòa nhưng vẫn quyết tâm duy trì chính sách chống cộng và hỗ trợ người Pháp ở Đông Dương như từ thời Tổng thống Truman. Rất tiếc ông đã phải chứng kiến cảnh người Pháp thất bại ở Điện Biên Phủ và sau đó đất nước Việt Nam bị chia đôi ở vĩ tuyến 17 chỉ hơn một năm sau khi nhậm chức.

Hình 3: Tổng thống Dwight D. Eisenhower 

Sau khi Tổng thống Frankin D. Roosevelt qua đời, Hiến pháp nước Mỹ đã được bổ xung thêm Tu chính án thứ 22 để giới hạn thời gian làm việc của tổng thống còn tám năm, tức hai nhiệm kỳ. Nếu như Tổng thống Dwight D. Eisenhower được tại vị thêm một hoặc hai nhiệm kỳ nữa thì có lẽ cuộc chiến chống cộng ở Việt Nam đã khác đi rất nhiều. Trong nhiệm kỳ tổng thống của mình, ông ta đã đóng vai trò quan trọng trong việc định hình chính sách của Mỹ đối với Việt Nam, cung cấp sự hỗ trợ đáng kể cho chính phủ miền Nam Việt Nam đồng thời tránh can thiệp quân sự trực tiếp.

Lúc bàn giao Nhà Trắng lại cho vị tổng thống thứ 35 là John F. Kennedy vào tháng giêng năm 1961, Eisenhower đã khuyên Kennedy rằng Lào là vị trí chiến lược quan trọng mà Mỹ cần phải điều quân đến nếu muốn ngăn chặn làn sóng đỏ bành trướng xuống các nước trong vùng Đông Nam Á. Sau khi nhậm chức, Kennedy cảm thấy việc đưa quân qua Lào không thuận tiện vì địa thế hiểm trở và nhất là nước Lào không tiếp giáp với biển nên rất khó khăn và tốn kém nếu phải sử dụng không vận để tiếp tế. Hơn thế nữa, quân đội Mỹ ở Lào có thể gặp nguy hiểm nếu như cộng sản Trung hoa và Việt Nam đồng loạt tấn công qua Lào, tương tự như những gì mới xảy ra ở chiến tranh Triều Tiên. Thay vào đó Kennedy đã chọn miền nam Việt Nam để đem quân vào với hy vọng vẫn có thể đạt được mục tiêu ngăn chặn cộng sản bành trướng về phía nam.

Hình 4: Tổng thống John F. Kennedy 

Đến đời Tổng thống Kennedy thì mọi thứ bắt đầu bị đảo lộn. Cuộc Khủng hoảng Tên lửa Cuba vào tháng 10 năm 1962 khiến ông ta cảm thấy Liên bang Soviet đã đi quá xa khi trực tiếp đối đầu với Mỹ bằng vũ khí hạt nhân, và điều đó làm ông trở nên cứng rắn và quyết liệt hơn trong việc chống cộng. Kennedy tuy đã từng phục vụ trong hải quân hồi Thế chiến thứ II, nhưng chỉ lên tới cấp bậc trung úy với nhiệm vụ chỉ huy tàu tuần tra ở quanh đảo Solomon nên không có kiến thức nhiều về quân sự. Sau khi Kennedy bị ám sát chết, phó Tổng thống Lyndon B. Johnson lên kế nhiệm và trở thành vị tổng thống thứ 36 của Mỹ. Ông ta cũng đã từng phục vụ trong hải quân với cấp bậc trung tá, nhưng chỉ là lính dự bị nên cũng không am hiểu nhiều về quốc phòng. Mọi việc liên quan đến chiến tranh Việt Nam đều được giao cho Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara quyết định. Rất tiếc McNamara cũng chẳng khá gì hơn vì tuy ông ta cũng phục vụ trong quân đội hồi thế chiến và lên tới cấp bậc trung tá, nhưng vì mắt kém nên chỉ làm việc liên quan đến phát triển các hệ thống hậu cần. .

McNamara thuộc loại hung hăng mà lại không có tài mưu lược nên có nhiều hành động và kế sách sai trái. Ông ta được cho là kẻ chủ mưu trong vụ giết hại Tổng thống Ngô Đình Diệm vì đã ra sức ngăn chặn, không cho quân đội Mỹ được trực tiếp tham chiến ở Việt Nam. Ông ta cũng được cho là đã ngụy tạo sự kiện Vịnh Bắc Bộ để lấy cớ thả bom bắc Việt. Trước đó, Tổng thống Eisenhower, người đã từng chỉ huy hàng triệu binh lính ở mặt trận châu Âu hồi thế chiến, không muốn gây chiến với cộng sản Việt Nam vì qua chiến tranh Triều tiên năm 1950, ông ta biết rõ Liên bang Soviet và cộng sản Trung hoa đứng đằng sau phe cộng sản Việt Nam trong khi McNamara thì lại quá thiển cận, cho rằng miền bắc Việt Nam nghèo đói, chỉ cần thả bom uy hiếp như thời Thế chiến thứ II ở Đức và Nhật là họ sẽ sớm đầu hàng. Tiếc thay Kennedy đã chọn người kém tài kém trí làm Bộ trưởng Quốc phòng nên quân đội Mỹ cũng đã nhanh chóng bị thảm bại ở Việt Nam như người Pháp đã từng bị hai thập niên về trước.


Thuyết Domino và chiến tranh Việt Nam

Một điểm quan trọng mà chúng ta cần phải hiểu là quân đội Mỹ hiện diện ở Việt Nam không phải là do sự yêu cầu của Tổng thống Ngô Đình Diệm hay do ơn mưa móc người Mỹ ban phát cho Việt Nam. Và họ cũng không đưa quân đến Việt Nam với tư cách thực dân, hay xâm lược, hay chiếm đất đai và tài sản của người Việt như cộng sản Việt Nam vẫn tuyên truyền. Lý do người Mỹ đến Việt Nam là để bảo vệ đất nước của chính họ không trở thành con domino cuối cùng bị biến thành cộng sản.

Thuyết domino là một lý thuyết được áp dụng trong chính sách đối ngoại của Mỹ sau Thế chiến thứ II, theo đó sự "sụp đổ" của một quốc gia không cộng sản vào tay chủ nghĩa cộng sản sẽ dẫn đến sự sụp đổ của các chính phủ không cộng sản ở các quốc gia lân cận. Lý thuyết này lần đầu tiên được Tổng thống Truman đề xuất để biện minh cho việc gửi viện trợ quân sự cho Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ vào những năm 1940, nhưng nó trở nên phổ biến vào những năm 1950 khi Tổng thống Eisenhower áp dụng nó cho Đông Nam Á, đặc biệt là miền Nam Việt Nam. Thuyết domino là một trong những lập luận chính được sử dụng dưới thời Tổng thống Kennedy và Johnson trong những năm 1960 để biện minh cho việc tăng cường sự can thiệp quân sự của Mỹ vào Chiến tranh Việt Nam.

Nếu nhìn lại sự phát triển của nước Mỹ sau khi giành được độc lập vào năm 1776, chúng ta thấy Mỹ trở nên giàu có, thịnh vượng, nhân dân ấm no, hạnh phúc và trở thành gương mẫu của thế giới trong việc xây dựng thể chế dân chủ, kết hợp một cách hài hòa với nền kinh tế thị trường để trở thành một siêu cường trên thế giới. Thế rồi đột nhiên có sự trỗi dậy của cái gọi là chủ nghĩa cộng sản, cho rằng những thành tựu nước Mỹ đạt được xuất phát từ những việc làm sai trái và cần phải được thay thế bằng một chế độ chuyên chính vô sản, độc tài và nghèo đói.

Nếu Stalin chỉ muốn biến nước Nga thành cộng sản thì đó là quyền của ông ta, thế nhưng Stalin lại tìm cách bành trướng chủ nghĩa cộng sản ra khắp năm châu, chẳng phải vì lợi ích của người dân trên thế giới, mà là với mưu đồ biến toàn bộ các nước thành chư hầu cộng sản. Hành động đó đã trở thành mối đe dọa nghiêm trọng và trực tiếp đến nền an minh nước Mỹ nên đã buộc người Mỹ phải làm tất cả những gì có thể làm được để chặn đứng tham vọng của cộng sản trước khi quá muộn. Tiếc thay trong quyết tâm đó, thiện chí của Tổng thống Ngô Đình Diệm trong việc ngăn chặn Mỹ đưa quân đến Việt Nam lại trở thành hành động gây cản trở việc làm cấp bách và cần thiết của họ nên ông ta đã phải trả giá quá đắt. Nếu như Ngô Đình Diệm cũng cư xử ngoan ngoãn với Kennedy như Hồ Chí Minh với Stalin thì ông ta đâu đến nỗi phải bị giết như vậy.

Nói chung thì chính sách chống cộng của Mỹ là nhất quán kể từ sau Thế chiến thứ II cho đến khi Liên bang Soviet sụp đổ. Tuy nhiên các biện pháp ngăn chặn và đối đầu với làn sóng đỏ có phần thay đổi tùy theo mỗi đời tổng thống và tùy thuộc vào hoàn cảnh: Tổng thống Truman có phần cương quyết nhưng dè dặt; Tổng thống Eisenhower thì tương đối ôn hòa, chỉ muốn lập một vòng đai ngăn chặn cộng sản bành trướng; Tổng thống Kennedy và Johnson thì hung hăng, mạnh bạo nhưng mù quáng, tưởng rằng Nikita Khrushchev nhượng bộ ở Cuba là dấu hiệu cộng sản đang yếu thế, hậu quả là một siêu cường đã phải quắp đuôi giữa háng chạy trước một nước thuộc thế giới thứ ba. Nếu như Kennedy biết lắng nghe theo lời khuyên của Tổng thống Ngô Đình Diệm và tiếp theo là của tướng Nguyễn Khánh thì 58 ngàn thanh thiếu niên Mỹ đâu đã phải bỏ xác trên mảnh đất Việt Nam. 

-------------------------------------------------------------------
Ghi chú: 
Một số người lập luận rằng Tổng thống John F. Kennedy đã lên kế hoạch chấm dứt can thiệp vào chiến tranh Việt Nam dựa trên “Bản ghi nhớ hành động an ninh quốc gia số 263” [1] sau đây:

Ngày 11 tháng 10 năm 1963

Kính gửi
 Bộ trưởng Ngoại giao (Dean Rusk)
 Bộ trưởng Quốc phòng (Robert S. McNamara)
 Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân (Tướng Maxwell Taylor)

CHỦ ĐỀ: Miền Nam Việt Nam

Tại cuộc họp ngày 5 tháng 10 năm 1963, Tổng thống (Kennedy) đã xem xét các khuyến nghị có trong báo cáo của Bộ trưởng McNamara và Tướng Taylor về chuyến công tác của họ đến miền Nam Việt Nam.

Tổng thống đã phê duyệt các khuyến nghị quân sự có trong Phần I B (1-3) của báo cáo, nhưng chỉ thị rằng không được công bố chính thức việc thực hiện kế hoạch rút 1.000 nhân viên quân sự Hoa Kỳ vào cuối năm 1963.

Sau khi thảo luận về các khuyến nghị còn lại của báo cáo, Tổng thống đã phê duyệt một chỉ thị gửi cho Đại sứ Lodge, được nêu trong điện tín số 534 của Bộ Ngoại giao gửi đến Sài Gòn.

McGeorge Bundy (Cố vấn an ninh quốc gia)

Thực ra thì bản ghi nhớ này được tung ra chỉ vài tuần trước cuộc đảo chánh Tổng thống Ngô Đình Diệm ngày 1 tháng 11 năm 1963 với một mục dích duy nhất là để thao túng tâm lý tướng Tôn Thất Đính, người được ông Diệm tin tưởng tuyệt đối để trấn giữ các cửa ngõ Sài Gòn.
Chúng ta cần phải hiểu ngày ấy Việt Nam là một trong những vị trí chiến lược quan trọng mà Mỹ cần phải có để bảo vệ thế giới nói chung và nước Mỹ nói riêng trước sự bành trướng của cộng sản, vì thế cho nên chuyện Mỹ bỏ rơi miền nam Việt Nam dưới thời Ngô Đình Diệm là chuyện không hề xảy ra. Đối với Kennedy, miền nam Việt Nam chính là bãi biển Normandy mà họ cần phải đến để ngăn chặn cộng sản. Phía miền nam Việt Nam chống đối thì chẳng qua là vì không thấy cái nguy lớn đằng trước nên Mỹ bắt buộc phải làm những gì cần phải làm rồi sau này sẽ để lịch sử chứng minh và phán xét. Nói một cách chính xác thì lúc đó Mỹ cần Việt Nam hơn Việt Nam cần Mỹ.
Mọi suy diễn của phe cộng sản cho rằng ông Diệm đã phạm phải những lỗi lầm làm phật lòng Mỹ, hoặc ông ta không được hàng ngũ tướng tá Việt Nam Cộng hòa kính trọng, hay vì chính sách kỳ thị tôn giáo của ông ta khiến Phật giáo nổi lên chống đối... chỉ là những tuyên truyền xuyên tạc, dựa vào những biểu hiện trên bề mặt. Sự thật phía bên trong thì tất cả những xáo trộn ở miền nam dưới thời ông Diệm chỉ xuất hiện sau khi Kennedy đắc cử tổng thống. Từ chuyện Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử dội bom dinh Độc Lập  vào ngày 27 tháng 2 năm 1962 cho đến cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963 đều do bàn tay của Mỹ giật dây. Điều đó có thể giải thích rằng không ai khác hơn ngoài Kennedy đã đứng sau lưng tất cả những bất ổn ở miền nam Việt Nam với mưu đồ lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm. Cộng sản Việt Nam cũng đã lợi dụng thời cơ để sách động các tôn giáo ở miền nam nổi lên chống lại ông Diệm.
John F. Kennedy đã bị ám sát đúng ba tuần sau khi Ngô Đình Diệm bị giết. Cho đến ngày nay, chưa ai có câu trả lời thỏa đáng về sự việc này vì nghi phạm chính trong vụ ám sát là Lee Oswald đã bị bắn chết bởi Jack Ruby, chủ một hộp đêm ở Dallas. Tuy nhiên nếu tìm hiểu kỹ, chúng ta sẽ thấy Kennedy phải trả giá đắt vì đã phạm một sai lầm rất lớn, đó là đã coi thường thế lực thực sự đứng sau Ngô Đình Diệm. Chính vì thế lực này mà cho đến ngày hôm nay, tất cả các cuộc điều tra của FBI về việc Kennedy bị ám sát đều phải bị bỏ lửng. 
-----------------------------------------------
References:
[1] NationalSecurity Action Memoranda [NSAM]: NSAM 263, South Vietnam https://www.jfklibrary.org/asset-viewer/archives/jfknsf-342-007#?image_identifier=JFKNSF-342-007-p0003

Popular posts from this blog

Một vết nhơ trong lịch sử dân tộc