John F. Kennedy – Kẻ biến Việt Nam thành chảo lửa

Hầu hết mọi người vẫn lầm tưởng Tổng thống John F. Kennedy là mẫu người hiền hòa, yêu chuộng hòa bình, và ngược lại Phó Tổng thống Lyndon B. Johnson, người kế nhiệm chức vụ tổng thống sau khi ông ta bị ám sát chết là một kẻ hung hăng khát máu vì đã đưa quân đội Mỹ ồ ạt sang Việt Nam. Sự thật thì Johnson chỉ là người kế thừa những chính sách và kế hoạch chống cộng còn dang dở của Kennedy chứ bản thân Johnson không hề có đường lối hay thành tích gì đáng kể, ngoại trừ một vài chấn chỉnh về xã hội trong suốt thời gian làm tổng thống của mình.

Tổng thống Kennedy

Từ những năm đầu thập niên 1950, Kennedy đã nêu rõ chủ trương và đường lối chống cộng của mình trong những cuộc vận động tranh cử cho chức vụ thượng nghị sĩ Mỹ đại diện cho tiểu bang Massachusetts. Ông ta đã tập trung phân tích sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản cũng như sự cấp thiết của chính sách ngăn chặn nó. Kennedy mô tả mối đe dọa cộng sản là một kẻ thù đầy quyền lực, dai dẳng và tàn nhẫn đang tìm cách thống trị thế giới thông qua các âm mưu và hành động phá hoại, gây tổn hại cho các hệ thống và chính quyền dân chủ đã được thiết lập từ trước ở các nơi trên thế giới. Ông ta khẳng định rằng mọi vấn đề khác đều trở nên nhỏ bé trước sự cần thiết phải duy trì thế cân bằng quyền lực giữa phương Tây và phe cộng sản. Ông ta cũng chỉ ra rằng chính sách ngăn chặn là điều thiết yếu, không chỉ nhằm bảo đảm an ninh quân sự cho nước Mỹ, mà còn bởi mối đe dọa mà chủ nghĩa cộng sản gây ra trong cả các lĩnh vực chính trị và kinh tế cho toàn thế giới.

John F. Kennedy được bầu vào Thượng viện năm 1952 và sau đó đã tái đắc cử vào năm 1958. Đến năm 1960, Kennedy được đề cử làm ứng cử viên tổng thống và ông ta đã mời Lyndon B. Johnson, một thượng nghị sĩ đến từ Texas, cùng tranh cử với cương vị phó tổng thống. Trong cuộc tổng tuyển cử diễn ra vào cuối năm đó, Kennedy đã đánh bại đương kim Phó Tổng thống Richard M. Nixon trong một cuộc đua vô cùng sít sao. Ở tuổi 43, Kennedy trở thành người Công giáo đầu tiên và trẻ tuổi thứ nhì (sau Theodore Roosevelt, 42 tuổi) từng đắc cử tổng thống trong lịch sử nước Mỹ.

Kennedy cũng có những chính sách đối ngoại đối với khu vực Mỹ Latin (nam Mỹ) trong nhiệm kỳ ngắn ngủi, kéo dài từ năm 1961 đến năm 1963. Những chính sách này còn được gọi là Học thuyết Kennedy (Kennedy Doctrines). Đây là sự tiếp nối và mở rộng các chiến lược ngăn chặn của những người tiền nhiệm nhưng tập trung mạnh mẽ hơn vào việc đẩy lùi sự lây lan của chủ nghĩa cộng sản cũng như tầm ảnh hưởng của Liên bang Soviet tại Tây Bán cầu.


Dwight D. Eisenhower, vị tổng thống tiền nhiệm, đã thấy trước được việc Kennedy đang chuẩn bị dẫn dắt nước Mỹ vào một cuộc chiến chống cộng khốc liệt nên trong bài diễn văn chia tay vào ngày 17 tháng 1 năm 1961, ông ta đã đề cập đến cái gọi là "Tổ hợp Quân sự - Công nghiệp” (The Military-Industrial Complex), một danh từ hoàn toàn mới lạ do chính ông đặt ra để cảnh báo người dân Mỹ về những mối nguy hiểm mà người kế nhiệm đang sắp sửa đem đến cho nước Mỹ và đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải duy trì sự cân bằng giữa chi tiêu quân sự và phúc lợi quốc gia.

Eisenhower cảnh báo dân Mỹ về "Tổ hợp Quân sự - Công nghiệp" 
trong bài diễn văn chia tay ngày 17 tháng 1 năm 1961

Dwight D. Eisenhower từng giữ chức vụ Tư lệnh Tối cao Lực lượng Viễn chinh Đồng minh trong Thế chiến Thứ II, và đã từng điều binh khiển tướng với hơn hai triệu binh lính trong tay, nhưng dường như ông ta cảm thấy tay đã vấy quá nhiều máu, dù rằng đó là cuộc chiến trừ gian diệt bạo. Sau cuộc chiến tranh tương tàn, rõ ràng là ông ta không còn muốn nhìn thấy cảnh máu đổ xương rơi xảy ra ở bất kỳ nơi nào trên trái đất nữa.

Sau khi Stalin chết, vào ngày 16 tháng 4 năm 1953 Tổng thống Eisenhower có bài diễn văn "Cơ hội cho hòa bình” (Chance for Peace speech), kêu gọi giảm chi tiêu quân sự, tạo dựng một nền hòa bình công bằng trên thế giới, và nêu ra những nguy hiểm của một cuộc chạy đua vũ trang leo thang. Ông còn nói rằng “Mỗi khẩu súng được chế tạo, mỗi chiến hạm được hạ thủy, mỗi quả tên lửa được phóng đi — xét đến cùng — đều tượng trưng cho một sự đánh cắp đối với những người đang đói mà không được ăn, những người đang rét mà không được mặc. Thế giới đang trang bị vũ khí này không chỉ tiêu tốn tiền bạc đơn thuần, mà nó đang tiêu tốn mồ hôi của những người lao động, trí tuệ của các nhà khoa học, và cả những niềm hy vọng của con trẻ.”

Tuy nhiên giữa lời nói và việc làm của Eisenhower có phần mâu thuẫn vì vào năm cuối nhiệm kỳ hai, ông ta đã chấp thuận cho CIA huấn luyện 1.500 người Cuba lưu vong sống ở Mỹ với âm mưu tấn công và lật đổ chế độ cộng sản ở Cuba.

Dầu thế nào trong giai đoạn Eisenhower làm tổng thống, người dân miền nam Việt Nam đã được hưởng một cuộc sống tương đối yên bình. Tuy rằng sau khi chia đôi đất nước, phe cộng sản miền bắc đã để lại một số cán bộ ở lại miền nam nhưng nói chung các cuộc đánh phá của các nhóm du kích do các cán bộ cộng sản này phát động không có gì đáng kể và hầu hết đã nhanh chóng bị dập tắt ở mọi nơi. Cuộc chiến lớn nhất có lẽ xảy ra ở Đỗ Xá vào khoảng năm 1962. Đây là một vùng rừng núi hiểm trở, nằm giữa ranh giới của ba tỉnh Quảng Nam, Quảng Tín, và Kontum mà quân du kích cộng sản dùng làm căn cứ địa. Phía Việt Nam Cộng hòa đã lập kế điệu hổ ly sơn bằng cách thả lính dù làm bằng rơm vào một khu rừng gần Đỗ Xá khiến quân cộng sản phải đưa toàn bộ lực lượng về hướng đó và hậu quả là căn cứ của chúng bị phía Việt Nam Cộng hòa tràn vào rồi từ đó tấn công chúng từ trong ra.

Nói chung thì từ lúc Bảo Đại về nước giữ chức vụ Quốc trưởng, và tiếp theo là Ngô Đình Diệm từ Mỹ trở về làm thủ tướng, rồi sau đó trở thành tổng thống, tình hình miền nam Việt Nam hoàn toàn ổn định, mọi thứ đều nằm trong vòng kiểm soát của chính phủ miền nam Việt Nam, không hề có điều gì để có thể nói là nguy ngập để mà phải cần một thế lực ngoại quốc nào vào giúp như những tuyên truyền trên báo giới của Mỹ sau này.


Chỉ ba tháng sau khi tuyên thệ nhậm chức, Tổng thống Kenneday đã vội vã dùng ngay lực lượng người Cuba lưu vong được thành lập dưới thời Eisenhower để tấn công vào Cuba với Cuộc đổ bộ Vịnh Con Heo (Bay of Pigs Invasion) vào ngày 17 tháng 4 năm 1961. Kế hoạch này đã phạm phải quá nhiều sai lầm nên chỉ sau vỏn vẹn bốn ngày, toàn bộ nhóm Cuba lưu vong đã bị phe cộng sản tóm gọn.

Cuối năm 1961, một chiến dịch bí mật mới mang tên Operation Mongoose đã được Tổng thống Kennedy chính thức phê chuẩn với âm mưu lật đổ chế độ Fidel Castro tại Cuba. Kế hoạch này là sẽ khuấy động tình hình bên trong Cuba thông qua hoạt động gián điệp, phá hoại, gây rối trên diện rộng và được chính người dân Cuba điều hành với hy vọng sẽ dẫn đến một cuộc nổi dậy mà trong đó người dân Cuba sẽ đứng lên lật đổ chế độ Castro. Nhiều kế hoạch táo bạo được soạn thảo cho Chiến dịch Mongoose, nhưng trên thực tế chỉ tồn tại trên giấy tờ.

Vào khoảng cuối thập niên 1950 dưới thời Eisenhower, Mỹ mang một số tên lửa đầu đạn hạt nhân Jupiter qua đặt bên Ý và Thổ Nhĩ Kỳ, và tất cả đều trong tầm bắn tới Moscow. Để đáp lại, Liên bang Soviet cũng đã đưa tên lửa đầu đạn hạt nhân qua đặt ở Cuba vào khoảng gần cuối năm 1961. Sự kiện này đã dẫn đến cuộc “Khủng hoảng Tên lửa Cuba” (Cuba Missle Crisis) vào năm 1962. Kennedy đã phải giải quyết vụ việc bằng cách thương lượng với Khrushchev, Bí thư thứ nhất của Đảng Cộng sản Liên bang Soviet, để cả hai bên cùng giám sát việc gỡ bỏ toàn bộ vũ khí hạt nhân đang đặt ở nước ngoài. Cũng trong thỏa thuận đó, Kennedy cũng đã phải hứa với Khrushchev rằng Mỹ sẽ không can thiệp vào nội bộ Cuba nên Chiến dịch Mongoose cũng đã bị đình chỉ.


Ngô Đình Diệm

Về phần Ngô Đình Diệm thì ông ta được sinh ra trong một gia đình Công giáo, đi học trường Pháp từ tấm bé. Năm 1918, ông vào học trường Hành chính và Luật Công cộng ở Hà Nội rồi tốt nghiệp thủ khoa. Đến năm 1933, Ngô Đình Diệm được Vua Bảo Đại mời làm Bộ trưởng Nội vụ, nhưng chỉ sau ba tháng làm việc ông ta đã xin từ quan và về sống cuộc đời ẩn dật vì không chấp nhận sự áp đặt của người Pháp lên các việc làm của ông ta. Đến tháng 8 năm 1950 ông đến Rome để tham dự lễ kỷ niệm Năm Thánh tại Vatican và đến năm 1951 ông ta bay qua Mỹ để tìm kiếm sự ủng hộ cho công cuộc chống cộng ở Việt Nam. Tại Mỹ, Ngô Đình Diệm ở Chủng viện Maryknoll ở Ossining, New York và đã tham gia vào các hội thảo chính trị ở Washington DC nhưng nói chung không ai biêt ông ta là ai và cũng chẳng được ai đoái hoài đến.

Quá chán nản, ông ta bay trở lại Rome và lần này được diện kiến Giáo hoàng Pius XII tại Vatican. Sau cuộc gặp mặt đó, Ngô Đình Diệm bay trở lại Mỹ và lạ thay, lần này ông ta được Hồng y Francis Speelman tiếp đón một cách nồng hậu. Tiếp theo, Ngô Đình Diệm được diện kiến Ngoại trưởng Hoa Kỳ Dean Acheson. Ông ta đã có ít nhiều thành công trong bài thuyết trình của mình trước Acheson và điều đó đã thúc đẩy ông ta ở lại Mỹ để tiếp tục tìm kiếm sự trợ giúp từ các chính khách. Ông Diệm đã đi khắp đất nước, phát biểu tại các trường đại học, và ông được nhận vào một vị trí giảng dạy tại trường Đại học Tiểu bang Michigan (Michigan State University). Ông ta còn nhận được sự ủng hộ của Thẩm phán Tòa án Tối cao Hoa Kỳ William O. Douglas và các Thượng nghị sĩ John McCormack, Mike Mansfield và nhất là John F. Kennedy, người trở thành tổng thống nước Mỹ sau này. Chính John F. Kennedy là người giới thiệu Ngô Đình Diệm cho Tổng Thống Eisenhower và từ đó đã mở đường cho ông ta trở về Việt Nam với sự giúp sức của chính phủ Mỹ.

Sau bốn năm bôn ba trên đất Mỹ, cuối cùng Ngô Đình Diệm đã trở về Việt Nam và được Quốc trưởng Bào Đại giao phó cho chức vụ thủ tướng. Với số lượng vũ khí nhỏ nhoi do người Mỹ cấp, trị giá khoảng 500 ngàn đô la Mỹ lúc bấy giờ, tương đương với khoảng 6 triệu đô ngày nay, ông Diệm đã nhanh chóng dẹp tan được các lực lượng phi chính phủ như Cao Đài, Hòa Hảo, Bảy Viễn… và nhất là giặc Bình Xuyên do Dương Văn Dương lãnh đạo để ổn định lại tình hình miền nam Việt Nam. Ông cũng đã có công trong việc dẹp hết các tệ nạn xã hội như cờ bạc và các ổ thuốc phiện do các lực lượng phi chính phủ khai thác từ trước.


Điện Biên Phủ thất thủ

Trong thời gian ông Diệm còn đang bôn ba bên Mỹ, tình hình bên Việt Nam mỗi ngày một căng thẳng và quân Pháp ngày càng gặp nhiều khó khăn trong việc đối phó với quân cộng sản. Tổng thống Eisenhower đã họp với Hội đồng An ninh Quốc gia để cân nhắc việc Mỹ can thiệp nhằm hỗ trợ quân Pháp tại Điện Biên Phủ. Ông ta đã đưa ra bốn điều kiện cho sự can thiệp của Mỹ, đó là Pháp phải chính thức yêu cầu Mỹ can thiệp; Liên Hợp Quốc phải đồng ý thông qua; việc can thiệp phải là một nỗ lực đa quốc gia; và Quốc hội Hoa Kỳ phải phê chuẩn.

Eisenhower muốn Pháp phải chính thức yêu cầu Mỹ can thiệp vì có lẽ muốn có sự trong sáng, minh bạch đối với lịch sử sau này. Pháp đã yêu cầu Mỹ giúp bằng lời nói thì việc công khai thành văn bản chắc hẳn cũng không có gì khó khăn.

Điều kiện “Liên Hợp Quốc phải đồng ý thông qua” có lẽ có thể đạt được dễ dàng vì lúc đó Liên bang Soviet đã tẩy chay Liên Hợp Quốc. Phía Trung hoa thì Đài Loan vẫn còn là một trong năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Một trở ngại nhỏ là phía nước Anh, một trong năm thành viên thường trực của Liên Hợp Quốc, Thủ tướng Wilson Churchill có phần ngần ngại, chỉ muốn dùng Hội nghị Genève sắp tới để giải quyết vấn đề Đông Dương thay vì dùng các biện pháp quân sự. Tuy nhiên nếu Mỹ thực sự quyết tâm muốn giúp người Pháp ở Việt Nam thì Churchill vẫn có thể thuyết phục được dễ dàng.

Eisenhower sau đó đã gặp gỡ tám nhà lãnh đạo Quốc hội Mỹ để thảo luận về Chiến dịch Kền kền (Operation Vulture) – một đề xuất nhằm hỗ trợ quân Pháp đang bị vây hãm tại Điện Biên Phủ thông qua các cuộc không kích xuất phát từ tàu sân bay. Các thành viên Quốc hội tuyên bố rằng họ sẽ chỉ ủng hộ các cuộc không kích nếu đó là một phần trong nỗ lực đa quốc gia. Ở thời điểm đó, cuộc chiến chống Pháp ở Việt Nam cũng tương tự như cuộc chiến ở Triều Tiên hơn chục năm về trước, đó là cuộc chiến do Stalin phát động để chống lại Liên Hợp Quốc thì việc chống trả cũng cần phải do lực lượng của Liên Hợp Quốc như ở Triều Tiên chứ không thể chỉ riêng Mỹ được.

Phó Tổng thống Mỹ Richard M. Nixon thì lại phát biểu tại một cuộc họp báo rằng "với tư cách là người dẫn đầu thế giới tự do, Mỹ không thể chấp nhận việc tiếp tục lùi bước khỏi châu Á. Nếu người Pháp rút lui, Mỹ có thể sẽ phải chấp nhận mạo hiểm ngay lúc này bằng cách đưa chính những người lính của mình vào cuộc". Tướng Matthew Ridgway, Tham mưu trưởng Lục quân, lại bày tỏ thái độ không tán thành, cho rằng việc Hoa Kỳ can thiệp sẽ đòi hỏi tới 7 sư đoàn lục quân cùng sự hỗ trợ không quân quy mô lớn.

Xét ra thì quyết định của quốc hội Mỹ vẫn là trên tất cả, vì đó là bên cung cấp ngân sách cho cuộc chiến. Ngoài ra, việc tổ chức lực lượng quân đội đa quốc gia đã gặp không ít khó khăn ngay từ phút đầu vì bị chính người Pháp phản đối. Họ chỉ yêu cầu Mỹ thả bom để giải tỏa các áp lực từ các họng súng đại bác ở trên những đỉnh đồi chung quanh Điện Biên Phủ và đó là việc làm cấp bách, cần phải được làm ngay lập tức khi sinh mạng của những người lính Pháp ở Việt Nam đang được tính bằng phút, bằng giờ. Còn việc tổ chức lực lượng đa quốc gia thì đòi hỏi thời gian mà họ không có. Cuối cùng Eisenhower đành phải để cho người Pháp bị thảm bại ở Việt Nam vì coi như tay đã bị trói.

Rất có thể Eisenhower cảm thấy cho dù có cứu được người Pháp ở Điện Biên Phủ thì cũng chẳng thể thay đổi được tình thế về mặt lâu dài. Hơn thế nữa, giữa Tổng thống Eisenhower và Truman, ngoài chuyện hai người thuộc về hai đảng phái đối lập, Eisenhower còn có những hiềm khích cá nhân đối với Truman vì lúc ra tranh cử tổng thống, Truman cổ võ cho người bên đảng của mình và đưa ra những lời lẽ không tốt đẹp chống lại Eisenhower. Hậu quả là những khó khăn hiện tại ở Việt Nam là sản phẩm của Truman thì chẳng có lý do gì mà Eisenhower phải giải quyết.

Đối với người Pháp thì Tổng thống Truman đã giao phó cho họ công việc qua Việt Nam với mục tiêu tái thiết lập triều đại Nhà Nguyễn, tức vua Bảo Đại trước khi Liên Hợp Quốc có thể trao trả độc lập lại cho Việt Nam, giờ đây trong lúc khó khăn và cấp bách, họ lại bị nước Mỹ phản bội thì không còn lý do gì để họ tiếp tục công việc người Mỹ giao phó nữa.

Thế rồi Hội nghị Genève được ký kết vào ngày 20 tháng 7 năm 1945 chia đôi đất nước ở vĩ tuyến 17. Miền bắc theo cộng sản, do Hồ Chí Minh làm chủ tịch, miền nam theo chế độ cộng hòa, do Quốc trưởng Bảo Đại lãnh đạo và tiếp nối theo là Ngô Đình Diệm trở thành vị tổng thống đầu tiên của miền nam Việt Nam. Trong Hiệp định Genève có điều khoản là sau hai năm, tức tới năm 1956 sẽ có tổng tuyển cử giữa hai miền nam bắc để thống nhất đất nước, tuy nhiên chuyện đó đã không xảy ra như những gì phe cộng sản miền bắc mong muốn.


Ngay sau khi Kennedy trở thành tổng thống thứ 35 của Mỹ, ông ta đã lập tức yêu cầu chính phủ miền Nam Việt Nam—dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Ngô Đình Diệm—phải thực hiện các bước đi cụ thể nhằm củng cố quân đội, lực lượng an ninh và nền tảng chính trị của mình để chống lại sự bành trướng của quân du kich và cộng sản bắc Việt. Các bước bao gồm việc tăng quân số Quân lực Việt Nam Cộng hòa từ 150.000 lên 170.000 và mở rộng lực lượng Bảo an từ khoảng 50.000 lên 68.000 người. Ngoài ra Kennedy cũng yêu cầu ông Diệm cần phải thực hiện các cải cách hành chính và kinh tế vì cho rằng đó là những yếu tố thiết yếu để khôi phục an ninh nội bộ và sự ổn định của miền nam Việt Nam.

Sau hai lần thất bại thảm hại ở Cuba, tham vọng khống chế cộng sản của Kennedy vẫn chưa hề thuyên giảm, trái lại ông ta lại càng trở nên hung hăng hơn nữa, và lần này Việt Nam trở thành mục tiêu mới của ông ta. Kennedy bắt đầu đòi hỏi Ngô Đình Diệm phải mở cửa để quân đội Mỹ đến Việt Nam trực tiếp đối đầu với quân cộng sản vì cho rằng quân đội Pháp còn thảm bại trước quân cộng sản thì quân đội của miền nam khó có thể tiếp tục cuộc chiến đó. Kennedy còn yêu cầu ông Diệm phải loại bỏ cố vấn Ngô Đình Nhu vì cho rằng ông ta là mối cản trở quan hệ giữa hai nước.

Ngô Đình Diệm ra sức thuyết phục Kennedy rằng sự hiện diện của quân đội Mỹ ở Việt Nam sẽ là điều bất lợi cho công cuộc chống cộng ở miền nam Việt Nam vì đối với người dân, hình ảnh thực dân Pháp vẫn còn trong tâm trí mọi người, họ sẽ không xem người Mỹ là bạn, mà trái lại, họ sẽ coi lính Mỹ đến Việt Nam là để thay thế lính Pháp xâm lược Việt Nam.

Kennedy không những không chấp nhận những lời khuyên của Ngô Đình Diệm mà lại còn tiếp tục gây thêm sức ép, buộc rằng nếu ông ta tiếp tục ngăn chặn quân đội Mỹ đến Việt Nam, chính phủ Mỹ sẽ phải ngưng mọi sự hỗ trợ cho miền nam chống lại cộng sản. Quá bế tắc, ông Diệm cuối cùng phải đành cho phép người Mỹ được đưa qua Việt Nam thêm 5 ngàn cố vấn. Thế rồi đến cuối năm 1962, đã có tới khoảng 11 ngàn cố vấn Mỹ hiện diện tại miền Nam Việt Nam

Khác với 900 cố vấn Mỹ đã được Eisenhower đưa qua từ trước, lần này các cố vấn quân sự bao gồm các lính đặc nhiệm mũ nồi xanh, trực tiếp bám theo các lực lượng quân đội Việt Nam Cộng hòa. Bên cạnh số cố vấn mới lại có thêm cả một đội ngũ CIA, trong đó có Lucien Conein, một sĩ quan của CIA có nhiệm vụ “cố vấn” các tướng lĩnh miền nam cách đảo chánh lật đổ Ngô Đình Diệm.

Ba người được CIA chọn cho việc lật đổ Ngô Đình Diệm là Tướng Trần Văn Đôn, Trần Thiện Khiêm và Dương Văn Minh (hay còn được gọi là Big Minh). Thế nhưng họ không thể thuyết phục được Tướng Tôn Thất Đính, người được Ngô Đình Diệm tin tưởng tuyệt đối để trấn thủ các cửa ngõ Sài Gòn. Kennedy đành phải ra lệnh cho Cố vấn an ninh quốc gia McGeorge Bundy viết một “Bản ghi nhớ hành động an ninh quốc gia số 263” bàn về kế hoạch rút cố vấn Mỹ về nước bắt dầu từ cuối năm nay, tức năm 1963. Phía trên cùng của bản ghi nhớ có đánh máy chữ “tối mật” nhưng rồi bị gạch chéo đi bằng tay và thay vào chữ viết tay “Eyes only”, tức chỉ được xem nhưng không được copy hay lưu trữ lại. Dĩ nhiên nếu để chữ “Tối mật” thì ngay cả CIA cũng không được đọc thì làm sao có thể đem nó đến cho Tướng Tôn Thất Đính xem được.

Hẳn nhiên Tướng Đính cũng rất hoang mang vì cho rằng Mỹ đến Việt Nam đánh nhau họ chẳng hưởng được lợi lộc gì, nếu không làm việc được với người lãnh đạo quốc gia họ bỏ đi là chuyện tất yếu. Nếu miền nam rơi vào tay cộng sản thì mình cũng chết, còn nếu cương quyết bảo vệ ông Diệm mà phe đảo chánh thành công thì mình cũng chết. Thế rồi Tướng Đính đành bỏ ngỏ cửa ngõ Sài Gòn cho phe Dương Văn Minh đưa quân vào Sài Gòn.


Đảo chánh lật đổ Ngô Đình Diệm

Trước khi cuộc đảo chánh lật đổ Ngô Đình Diệm xảy ra, người Mỹ đưa vợ con của ông Ngô Đình Nhu là bà Trần Lệ Xuân và Ngô Đình Lệ Thủy qua Mỹ với danh nghĩa thực hiện các cuộc thuyết trình tại một số trường đại học về vai trò của người phụ nữ châu Á trong thời chiến. Độ một tuần trước khi đảo chánh, đại sứ Mỹ tại Việt Nam lúc bấy giờ là Henry Cabot Lodge gọi điện thoại cho Ngô Đình Diệm nói rằng nếu ông ta đầu hàng thì máy bay đang chờ sẵn sẽ chở ông ta và Ngô Đình Nhu rời khỏi Việt Nam ngay lập tức, thế nhưng ông Diệm từ chối.

Đến ngày 1 tháng 11 năm 1963, phe Dương Văn Minh bắt được hai anh em Ngô Đình Diệm. Ông ta gọi điện cho Henry Cabot Lodge để bàn giao cho Mỹ, thế nhưng Henry Cabot Lodge lại trả lời là hiện không có chiếc máy bay nào sẵn sàng cả. Các chi tiết về cuộc đối thoại sau đó giữa hai người ra sao thì không có tài liệu nào ghi lại, nhưng chúng ta có thể đoán rằng Henry Cabot Lodge đã ra lệnh cho Dương Văn Minh phải thủ tiêu cả hai anh em Ngô Đình Diệm vì nếu để ông ta sống, biết đâu có vị tướng nào đó trung thành với ông Diệm nổi lên đảo chánh và thành công rồi trao lại chính quyền cho ông Diệm thì mọi thứ lại trở về con số không.

Ba tuần sau đó, vào ngày 22 tháng 11 năm 1963, John F. Kennedy bị ám sát chết ở Dallas, Texas. Có thể FBI biết rõ thế lực nào đứng sau lưng ông Diệm, ai là kẻ chủ mưu giết Kennedy nhưng không thể chứng minh được nên mọi thứ vẫn còn là điều bí ẩn cho đến ngày nay.


Thời kỳ hậu Kennedy

Sau khi Dương Văn Minh lên nắm quyền, người Mỹ nhận ra ngoài cái xác to lớn, trong đầu ông ta lại rỗng tuếch. Công việc trị quốc bình thiên hạ xem ra vượt quá khả năng của Dương Văn Minh nên lúc nào ông ta cũng chán nản, chỉ muốn về nhà trồng lan. Người Mỹ sau đó phát hiện ra một vị tướng khác mà tất cả các tài liệu sử của Mỹ viết về ông ta đều bắt đầu một câu ca ngợi rằng ông ta là một người “rất khôn ngoan” (shrewd), và người đó chính là Tướng Nguyễn Khánh. Thế rồi vào ngày 30 tháng 1 năm 1964 một cuộc đảo chánh lật đổ Dương Văn Minh xảy ra trong chớp nhoáng và Nguyễn Khánh lên nắm quyền.

Ngày đầu tiên tại Dinh Độc Lập, trong lúc Nguyễn Khánh đang họp toàn bộ tướng lĩnh và nội các thì nhân viên báo có điện thoại gọi. Nguyễn Khánh nhấc phone trả lời ngay trong phòng họp và người ta chỉ nghe ông ta nói vài tiếng yes, no và ok nên không ai biết người đầu dây bên kia là ai. Sau buổi họp, Nguyễn Khánh gọi Nguyễn Cao Kỳ và Nguyễn Văn Thiệu lại và nói người gọi phone vừa rồi là Đại sứ Mỹ Henry Cabot Lodge và ông ta muốn gặp Nguyễn Khánh. Tuy nhiên ông ta đã phái Nguyễn Cao Kỳ và Nguyễn Văn Thiệu đi gặp Henry Cabot Lodge bên Tòa đại sứ Mỹ chứ tự mình không đi.

Sự việc này cho thấy Nguyễn Khánh quả thực là người khôn ngoan. Lúc bấy giờ ông ta đã trở thành Thủ tướng nước Việt Nam Cộng hòa, người lãnh đạo quốc gia, trong khi Đại sứ Mỹ chỉ là khách thì khách phải đến chào ra mắt chủ nhà chứ ai lại có chuyện chủ nhà đến chào khách. Ông ta thấy ngay Henry Cabot Lodge đang muốn chơi trò “quan toàn quyền” giống như thời Pháp ngày xưa nên đã không để họ sai khiến mình.

Nguyễn Cao Kỳ và Nguyễn Văn Thiệu đến Tòa đại sứ Mỹ và vừa mới gặp Henry Cabot Lodge đã bị nghe hắn nạt nộ rằng “chúng mày làm gì mà cứ đảo chánh liên tục thế…”. Nguyễn Văn Thiệu rất sốc, lúng túng chưa biết phải trả lời sao, còn Nguyễn Cao Kỳ thì lại líu ríu xin lỗi như một đứa trẻ phạm tội đang bị người lớn quở phạt. Ấy thế mà những lời líu ríu của Nguyễn Cao Kỳ lại là những lời vàng ý ngọc mà đã giúp đưa ông ta lên  đến đỉnh quyền lực chỉ ít lâu sau đó.

Theo hồi ký của Nguyễn Cao Kỳ thì sau khi Nguyễn Cao Kỳ và Nguyễn Văn Thiệu trở về lại Dinh Độc lập báo cáo mọi sự việc lại cho Nguyễn Khánh thì ông ta đã rất tức giận và gọi ngay người bên Bộ Ngoại giao và Tư pháp đến văn phòng làm thủ tục trục xuất Đại sứ Henry Cabot Lodge ra khỏi Việt Nam. Thật ngạc nhiên thay, ngay sau khi Nguyễn Khánh rời văn phòng thì đã có một bầy nhân viên Đại sứ Mỹ đang chờ sẵn ở ngoài bao vây và ra sức ngăn cản ông ta không nên trục xuất đại sứ Mỹ. Thì ra trong văn phòng dinh tổng thống có “bọ” gắn đầy khắp nơi và họ biết rõ tất cả những đối thoại xảy ra ở bên trong.

Nguyễn Khánh dư biết vận mạng miền nam Việt Nam nằm trong tay người Mỹ nên nếu thực sự trục xuất đại sứ Mỹ thì coi như chẳng khác nào dâng miền nam cho cộng sản. Đấy là chưa kể số phận mình có thể cũng bị như Ngô Đình Diệm một cách dễ dàng. Thế rồi mọi thứ đều trở lại bình thường, nhưng ít nhất ông ta đã dạy cho Henry Cabot Lodge một bài học về vị trí của họ ở Việt Nam.


Vào ngày 9 tháng 5 năm 1964, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ là Robert McNamara đích thân đến Sài Gòn gặp Nguyễn Khánh để bàn về những kế hoạch cho những năm tháng đằng trước. Trong buổi họp đầu tiên với Nguyễn Khánh, McNamara đặt thẳng vấn đề rằng quân đội miền nam Việt Nam cần phải bắt đầu thực hiện những kế hoạch do Ngũ Giác Đài hoạch định, và chương trình là Mỹ sẽ thả bom bắc Việt. Nghe tới đó, Nguyễn Khánh đỏ mặt, phản ứng rằng “Người Việt Nam chúng tao hy sinh xương máu là để bảo vệ miền nam không lọt vào tay cộng sản. Chúng tao không thi hành kế hoạch hay chính sách của ai hết”. Nghĩ đến chuyện Mỹ thả bom bừa bãi vào Đức và Nhật hồi Thế chiến Thứ II, giết bao nhiêu người dân vô tội, ông ta nói tiếp "Chúng tao không muốn Mỹ thả bom bắc Việt. Không phải ai ngoài bắc cũng đều là cộng sản, chúng mày không được phép thả bom bắc Việt. Chúng mày thả bom như vậy Việt cộng kéo vào trong nam thì làm sao chúng tao có thể chống trả lại được!”

McNamara kiên nhẫn giải thích cho Nguyễn Khánh là họ sẽ không nhắm vào thường dân mà chỉ tấn công các cơ sở quân sự, nhà máy, cầu cống... để buộc cộng sản bắc Việt chấm dứt việc tiếp tế cho quân đội du kích ở miền nam. Với sức mạnh quân sự hùng mạnh và nhiều loại vũ khí mới tinh vi, người Mỹ sẽ không để bất cứ một tên cộng sản nào được phép đặt chân vào mảnh đất miền nam Việt Nam. Theo một số tài liệu ghi chép lại thì họ cho rằng Nguyễn Khánh lúc đó có vẻ siêu lòng trước các giải thích của McNamara, nhưng hôm McNamara về nước, Nguyễn Khánh đã ra phi trường tiễn và một lần nữa phản đối kế hoạch thả bom bắc Việt của Mỹ.


McNamara nhận ra rằng việc chọn một người Việt có tài có trí, đủ sức trị quốc bình thiên hạ là một sai lầm vì người có tài có trí không luồn cúi, không để cho người Mỹ thực hiện những điều họ muốn làm. Giải pháp tốt nhất là Mỹ phải tìm một người vừa phải, có đủ uy tín trong quân đội, không bị dân gian ghét, và quan trọng nhất là không phản đối các kế hoạch và chính sách người Mỹ muốn làm ở Việt Nam. Thế là người được chọn để thay thế Nguyễn Khánh không ai khác hơn là Nguyễn Cao Kỳ.

Khoảng giữa tháng 5 năm 1965, lợi dụng lúc Nguyễn khánh đi kinh lý ở các tỉnh miền tây, Nguyễn Cao Kỳ đã họp hội đồng tướng lĩnh lại và tuyên bố Nguyễn Khánh không còn là Thủ tướng nữa, mọi người cần phải bầu một người khác thay thế và cuối cùng tất cả các lá phiếu đều đã dồn hết cho Nguyễn Cao Kỳ. Nguyễn Khánh sau đó đã bị áp tải để đưa qua Mỹ giam lỏng.


Sau khi Nguyễn Cao Kỳ lên nắm quyền, người Mỹ đã đưa quân đội đến Việt Nam như chỗ không người. Thủ tướng Phan Huy Quát đã thốt lên rằng “Tôi phải trả lời với người dân như thế nào về sự hiện diện của quân đội Mỹ ở Việt Nam bây giờ?”

Đối với người Mỹ thì họ đã phải sục sạo xuống tận đáy thùng phuy mới kiếm được một người ngoan ngoãn và dễ bảo như Nguyễn Cao Kỳ để đưa lên nắm quyền và đây là cơ hội cuối cùng để họ có thể đưa quân qua Việt Nam. Nếu như cứ phải theo thủ tục phép tắc mà lỡ Nguyễn Cao Kỳ cũng dở chứng, không cho phép người Mỹ đưa quân đến Việt Nam như Ngô Đình Diệm hay Nguyễn Khánh thì không lẽ lại phải đi tìm người khác thay thế và cứ phải đảo chánh mãi hay sao!


Biến cố Vịnh Bắc Bộ  

Coi như người Mỹ đã thành công trong việc đưa quân đội qua Việt Nam theo như ý muốn của Kennedy. Bước kế tiếp của McNanara là thả bom bắc Việt nhưng thủ tục hành chánh bây giờ không còn ở bên Việt Nam nữa, mà là bên Mỹ. 

Mưu kế của McNamara là điều hai chiếc tàu chiến Maddox và USS Turner Joy đến Vịnh Bắc Bộ (Gulf of Tonkin) để khiêu khích cộng sản. Nhiệm vụ của chiếc USS Turner Joy là đậu ngoài khơi trong vùng biển quốc tế để hậu thuẫn cho chiếc Maddox chạy vào lởn vởn bên trong lãnh hải bắc Việt. Sau ba ngày, phía cộng sản Việt Nam đành phải đưa ba chiếc xuồng nhỏ ra đuổi. Súng hai bên đã nổ và cả hai đều trúng đạn của nhau nhưng một chiếc xuồng của miền bắc bị bắn chìm và chiếc Maddox chỉ hư hại nhẹ.

Chiếc Maddox sau đó chạy ra ngoài biển quốc tế nằm chờ. Họ không dám trở lại hải phận Việt Nam dù biết hải quân cộng sản yếu thế, nhưng lại sợ miền bắc dùng MIG-17 với chiến thuật kamikaze của Nhật đánh chìm tàu của họ trong lãnh hải Việt Nam thì coi như hỏng hết kế hoạch thả bom bắc Việt. Họ được bảo rằng cộng sản giống như loài ong bắp cày, thọc vào tổ nó, hàng ngàn con sẽ bay ra đốt. Công việc của họ là chờ cho tàu thuyền hay máy bay của cộng sản bắc Việt ra nghinh chiến là đạt yêu cầu, thế nhưng hải quân và không quân của cộng sản bắc Việt ngày ấy còn non nớt, như những con chim sẻ phải bảo vệ lấy tổ trước chim đại bàng, đuổi được chiếc Maddox ra ngoài khơi là đã thành công lắm rồi nên sau đó không làm gì hơn nữa. 

Sau mấy ngày không thấy động tĩnh gì, như bị McNamara thúc giục sao đó, nửa đêm thuyền trưởng chiếc Maddox tuyên bố tàu bị tấn công rồi ra lệnh binh sĩ bắn đủ mọi thứ súng về phía chung quanh tàu. Sáng hôm sau trên trang nhất của các báo lớn ở Mỹ đều đang tải dòng chứ lớn: Tàu Mỹ vô cớ bị cộng sản Việt Nam tấn công trong vùng biển quốc tế. Thế là lòng dân sôi sục. Quộc hội Mỹ vội vã nhóm họp rồi ký cho McNamara một cái ngân phiếu trống, muốn điền vào bao nhiêu tiền cũng được. Cuộc oanh tạc miền bắc Việt Nam được bắt đầu. Và đúng như lời Nguyễn Khánh tiên đoán, hàng triệu binh lính quân đội chính quy miền bắc cũng sắp hàng đi bộ vào miền nam Việt Nam.

Kể từ đó chiếc chảo lửa Việt Nam đã bùng lên rực sáng cả bầu trời, nhưng ngọn lửa đó cũng dập tắt đi những tham vọng khống chế cộng sản của Kennedy. Điều may mắn là nước Mỹ không bị trở thành con domino cuối cùng biến thành cộng sản vì chế độ vô sản ở đông Âu cũng đã bị tan rã, Liên bang Soveit cũng tự sụp đổ, và giấc mơ dẫn năm châu đến đại đồng của Hồ Chí Minh cuối cùng cũng mãi mãi vẫn chỉ là giấc mơ.

------------------------------------------------------------

Lời bàn - Nếu như ngày xưa Ngô Đình Diệm cũng đối xử ngoan ngoãn với Mỹ như Hồ Chí Minh đối với Liên bang Soviet, làm gì cũng phải báo cáo rồi chờ chỉ thị xuống thì mới dám làm thì số phận ông ta đâu đến nỗi thê thảm như vậy. 


Popular posts from this blog

Chính nghĩa nào cho đảng cộng sản Việt Nam

Ai giao quyền lãnh đạo cho đảng CSVN?

Mao Trạch Đông nói gì khi nhận ra Stalin không tin tưởng mình